Ở Hà Nội, muốn dạy một lớp nghề trình độ sơ cấp thì giỏi nghề chưa đủ, còn phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp. Khóa học 96 giờ, ba mô-đun bắt buộc cộng một mô-đun chọn trong bốn, theo Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. Chứng chỉ bìa đỏ chữ vàng, khổ 210 mm x 148 mm, cấp không quá 30 ngày sau khi kết thúc khóa. Từ đầu năm 2026 khung pháp lý đã đổi: Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15, Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT và Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT cùng có hiệu lực trong vòng nửa năm. Người cần đọc kỹ ở Hà Nội là người truyền nghề ở làng nghề và trung tâm.

Thông tin nhanh
| Khu vực tuyển sinh | Hà Nội |
| Tên chứng chỉ | Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp |
| Tổng thời gian bồi dưỡng | 96 giờ |
| Mô-đun bắt buộc và tự chọn | 3 mô-đun bắt buộc 80 giờ, 1 mô-đun tự chọn 16 giờ trong 4 mô-đun |
| Thông tư quy định | Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH, hiệu lực 01/6/2022 |
| Đơn vị cấp | Người đứng đầu cơ sở bồi dưỡng |
| Hiệu lực của chứng chỉ | Không ghi thời hạn, bản chính cấp một lần |
| Hạn cấp phát | Không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc khóa |
| Yêu cầu trình độ | Bằng trung cấp trở lên, hoặc năng lực thực hành nghề |
| Văn bản chuẩn nghề nghiệp | Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT, hiệu lực 09/4/2026 |
| Quản lý nhà nước | Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ 01/3/2025 |
| Mức thu | Do từng cơ sở công bố. Gọi 083.906.1718 để nhận bảng thu kỳ gần nhất |
Tấm chứng chỉ này cấp cho ai
Trình độ sơ cấp là bậc thấp nhất trong bốn bậc của giáo dục nghề nghiệp, dạy người học làm được các công việc cơ bản của một nghề. Người đứng lớp bậc này có tên riêng trong luật.
Bằng trung cấp là trình độ chuẩn, không phải điều kiện duy nhất
Điểm c khoản 1 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 đặt trình độ chuẩn của giáo viên sơ cấp là bằng trung cấp trở lên. Khoản 2 cùng điều mở thêm một cửa: ai không có văn bằng đó thì phải có năng lực thực hành nghề phù hợp với trình độ giảng dạy. Hai đường này song song chứ không thay nhau, và cả hai đều còn phải qua điều kiện thứ ba là năng lực sư phạm.
Lớp sơ cấp mở được ở đâu
Ba loại trường của giáo dục nghề nghiệp đều dạy được bậc sơ cấp: trường cao đẳng, trường trung cấp và trường trung học nghề. Ngoài ra khoản 3 Điều 7 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 còn cho các trung tâm, doanh nghiệp và hợp tác xã thực hiện chương trình sơ cấp. Danh sách này giải thích vì sao nhu cầu người có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tăng chứ không giảm.
Ai chưa cần tấm chứng chỉ này
Người tốt nghiệp ngành đào tạo giáo viên thì khoản 3 Điều 22 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 không đòi năng lực sư phạm bổ sung, vì phần đó đã nằm trong chương trình đại học của họ. Người chỉ đi kèm việc tại chỗ mà cơ sở không tổ chức thành chương trình đào tạo cũng chưa thuộc diện. Ranh giới nằm ở chỗ có chương trình đào tạo và có cấp chứng chỉ cho người học hay không.
Phân biệt trước khi đóng tiền
Đây là chỗ tốn tiền nhất trong cả bài. Ba tấm giấy khác nhau về bản chất nhưng tên đọc lên nghe rất giống nhau.
| Tên giấy | Cấp cho ai | Căn cứ | Tình trạng |
|---|---|---|---|
| Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp | Người dạy | Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH | Đang cấp, khóa 96 giờ |
| Chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp | Người dạy | Khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT | Chưa tìm thấy văn bản ban hành chương trình |
| Chứng chỉ sơ cấp | Người học | Điểm d khoản 3 Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 | Cấp sau khi học xong một nghề |
Bắt đầu từ tấm này
Tên đầy đủ cần đọc trọn: chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp. Căn cứ là Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH, chương trình 96 giờ ở Phụ lục II. Khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT ghi tên tấm này trong danh sách được công nhận. Đây là thứ nên đăng ký trước, hai tấm còn lại trong bảng thì không phải việc của bạn lúc này.
Tấm thứ hai chưa có chương trình để mà học
Khoản 4 Điều 8 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT còn đòi giáo viên sơ cấp có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp. Đây là tấm khác hẳn. Điểm b khoản 3 Điều 13 cùng thông tư tính thời hạn hoàn thiện là 12 tháng kể từ ngày chương trình bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp có hiệu lực thi hành, tức đồng hồ chỉ chạy khi chương trình đó ra đời. Tính đến ngày cập nhật bài này chúng tôi chưa tìm thấy văn bản ban hành chương trình đó.
Tấm thứ ba là giấy của người học, không phải của người dạy
Điểm d khoản 3 Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 quy định người học hết chương trình sơ cấp thì được cấp chứng chỉ sơ cấp. Đó là giấy chứng nhận đã học xong một nghề, cấp cho học viên. Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp thì cấp cho người đứng lớp. Hai tên chỉ khác nhau bốn chữ nhưng đối tượng ngược nhau hoàn toàn.
Giấy cũ vẫn còn giá trị
Người từng học sư phạm bậc 1 hay sư phạm dạy nghề trình độ sơ cấp nghề không phải học lại: khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT xếp cả hai vào nhóm được công nhận. Ai đang có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trung cấp, dạy cao đẳng, sư phạm bậc 2 hoặc chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học cũng đủ, vì khoản 8 dẫn ngược lên khoản 7 theo hướng cao hơn thì bao trùm thấp hơn.

Bên trong chương trình bồi dưỡng
Số giờ và tên mô-đun dưới đây chép nguyên từ mục IV Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. Đối chiếu bảng này với lịch học mà cơ sở gửi là biết ngay lớp có đủ chương trình không.
| Mã | Tên mô-đun | Loại | Thời gian (giờ) |
|---|---|---|---|
| MĐ01 | Chuẩn bị dạy học | Bắt buộc | 28 |
| MĐ02 | Thực hiện dạy học | Bắt buộc | 36 |
| MĐ03 | Đánh giá trong dạy học | Bắt buộc | 16 |
| MĐ04 | Thực tập sư phạm | Tự chọn | 16 |
| MĐ05 | Cơ sở chung của giáo dục nghề nghiệp | Tự chọn | 16 |
| MĐ06 | Phát triển chương trình đào tạo trình độ sơ cấp | Tự chọn | 16 |
| MĐ07 | Giao tiếp sư phạm | Tự chọn | 16 |
Số liệu lấy tại mục IV Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. Tổng 96 giờ gồm 80 giờ bắt buộc và 16 giờ tự chọn. Cập nhật 08/2026.
Trọng tâm rơi vào phần đứng lớp
Trong 80 giờ bắt buộc, mô-đun Thực hiện dạy học chiếm 36 giờ, nhiều hơn hẳn hai mô-đun còn lại là Chuẩn bị dạy học 28 giờ và Đánh giá trong dạy học 16 giờ. Phần thực hành và thảo luận của cả ba cộng lại là 54 giờ, so với 21 giờ lý thuyết. Con số đó cho biết khóa học được thiết kế để tập làm chứ không để nghe.
Phần tự chọn quyết định lớp hợp với ai
Chương trình có bốn mô-đun tự chọn, mỗi mô-đun 16 giờ, người học lấy một: Thực tập sư phạm, Cơ sở chung của giáo dục nghề nghiệp, Phát triển chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, Giao tiếp sư phạm. Người sắp phải tự viết chương trình cho lớp của mình nên nhắm MĐ06. Người dạy nhóm học viên khó tiếp cận thì MĐ07 sát hơn.
Đọc lịch học bằng đơn vị của văn bản
Chương trình đếm bằng giờ chuẩn chứ không bằng giờ đồng hồ: 45 phút cho một giờ lý thuyết, 60 phút cho một giờ thực hành, tích hợp, thảo luận hoặc thi kiểm tra. Quy định nằm ở mục III Phụ lục II Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. Khi cơ sở gửi thời khóa biểu, lấy đúng thước này ra đo là biết lớp có đủ giờ không.
Kiểm dòng đầu bản cam kết trước khi ký
Bản cam kết hoặc thông báo tuyển sinh phải ghi rõ chương trình theo Phụ lục I hay Phụ lục II của Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. Phụ lục II là 96 giờ cho bậc sơ cấp. Phụ lục I là 280 giờ cho bậc trung cấp và cao đẳng. Một chữ số quyết định chênh lệch gần ba lần về thời gian và tiền.
Khung pháp lý đã đổi từ 01/01/2026
Từ đầu năm 2026 tới giữa năm 2026 có ba văn bản đổi khung cho nghề này. Đây là phần các trang cũ hay bỏ sót nhất.
Luật cũ hết hiệu lực từ đầu năm 2026
Khoản 1 Điều 44 Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 cho luật mới hiệu lực từ 01/01/2026 và chấm dứt hiệu lực của Luật 74/2014/QH13. Một số điều lùi tới 01/7/2026. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp nay có bốn bậc, thêm giáo dục trung học nghề. Đây là mốc dễ kiểm chứng nhất khi soi độ mới của một trang tuyển sinh.
Ba hạng chức danh và ba mức bằng cấp
Ngày 09/4/2026 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực, đặt chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên sơ cấp và giáo viên trung cấp. Điều 8 chia ba hạng: hạng III với bằng trung cấp trở lên hoặc năng lực thực hành nghề, hạng II với bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên, hạng I với bằng thạc sĩ trở lên. Trước đó chức danh này không có đường thăng hạng.
Người được mời dạy theo đợt cũng vào khung
Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT ngày 09/6/2026 phủ nhóm người dạy nghề, tức người không phải giáo viên cơ hữu nhưng được mời giảng dạy hoặc hướng dẫn thực hành tại doanh nghiệp và hợp tác xã. Điều 6 đòi họ có năng lực sư phạm tương ứng trình độ giảng dạy, và cho phép chứng minh bằng con đường đánh giá công nhận thay vì bằng chứng chỉ.
Một chi tiết nhỏ nhưng lộ ngay trang cũ
Nghị định 37/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 chuyển giáo dục nghề nghiệp về Bộ Giáo dục và Đào tạo kể từ 01/3/2025. Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH ra đời trước đó ba năm nên phần tổ chức thực hiện vẫn dẫn các đầu mối cũ. Văn bản mới hơn là Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT thì ghi thẳng Sở Giáo dục và Đào tạo. Đọc chỗ này là biết trang tuyển sinh đang chép từ đâu.
Tay nghề thay được tấm bằng tới đâu
Đây là phần quan trọng nhất với người giỏi nghề mà đi làm sớm. Luật không đóng cửa với họ, nhưng mở cửa theo một danh sách rất cụ thể.
Bốn loại giấy thay được tấm bằng
Khoản 6 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT liệt kê giấy tờ được công nhận là năng lực thực hành nghề để dạy trình độ sơ cấp: chứng nhận nghệ nhân cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 1 trở lên, chứng nhận bậc thợ 3/7 hoặc 2/6 trở lên. Cộng thêm toàn bộ nhóm ở khoản 5, tức các danh hiệu ưu tú và các mức kỹ năng nghề cao hơn.
Con đường đánh giá công nhận
Người dạy nghề không nhất thiết phải cầm chứng chỉ mới được đứng lớp. Điều 7 và Điều 8 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT dựng cơ chế hội đồng đánh giá tại cơ sở, với ba hình thức là vấn đáp, thực hành giảng dạy và thực hành kỹ năng nghề. Hồ sơ kết quả gồm biên bản đánh giá, phiếu nhận xét của từng thành viên và văn bản đề xuất công nhận gửi người đứng đầu cơ sở.
Hội đồng đánh giá gồm những ai
Khoản 3 Điều 7 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT quy định hội đồng có 05 hoặc 07 thành viên, gồm lãnh đạo cơ sở, nhà giáo có chuyên môn phù hợp và đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc hiệp hội ngành nghề. Ủy viên phải có ít nhất 03 năm kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy hoặc hoạt động trong ngành nghề được đánh giá. Khoản 6 cấm bố trí người có quan hệ thân thích với người được đánh giá vào hội đồng.
Mười hai tháng gián đoạn là mất hiệu lực
Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm không có hạn dùng, nhưng kết quả công nhận năng lực theo Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT thì có. Điểm b khoản 6 Điều 8 giữ hiệu lực chừng nào người dạy nghề còn giảng dạy và không nghỉ quá 12 tháng liên tục. Nghỉ quá thì phải đánh giá lại trước khi dạy tiếp. Hai cơ chế khác nhau, đừng lẫn.
Ở Hà Nội thì khác nơi khác chỗ nào
Mật độ trung tâm giáo dục nghề nghiệp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên dày nhất nước. Hàng trăm làng nghề còn hoạt động. Nhiều doanh nghiệp có bộ phận đào tạo nội bộ. Nguồn người muốn chuyển sang dạy nghề dồi dào từ cả khối kỹ thuật lẫn khối dịch vụ.
Nơi nhiều lớp nhất cũng là nơi nhiều lời mời nhất
Mật độ trung tâm giáo dục nghề nghiệp và cơ sở bồi dưỡng ở đây dày hơn mọi địa bàn khác, kéo theo lượng quảng cáo tuyển sinh cũng dày tương ứng. Người học vì thế ít khi thiếu chỗ, mà thường thiếu cách chọn. Cách chọn nhanh nhất là hỏi ba thứ đo được: mô-đun tự chọn nào được mở, ảnh phôi chứng chỉ, và đường dẫn tới mục công bố danh sách đã cấp trên trang của cơ sở.
Làng nghề và nhóm học viên rất khác nhau trong cùng một lớp
Một lớp nghiệp vụ sư phạm sơ cấp ở đây có thể ngồi cạnh nhau người dạy nghề gốm, người dạy pha chế, kỹ thuật viên spa và thợ điện công nghiệp. Chương trình 96 giờ được thiết kế cho tình huống đó: phần lớn thời lượng nằm ở kỹ năng chung như thiết kế bài tích hợp và đánh giá năng lực người học, còn nội dung nghề thì bạn mang sẵn từ nghề của mình vào.
Một điều khoản nên đọc kỹ
Thông tư 06/2022 Điều 5 tả kỹ hình thức phôi. Bìa chứng chỉ dạy trình độ sơ cấp màu đỏ chữ vàng còn bìa dạy trung cấp và cao đẳng màu xanh dương. Cả hai in hai mặt bốn trang khổ 210 mm x 148 mm. Nhỏ, nhưng là loại chi tiết quyết định bạn phải học lại hay không.
Lịch học, hình thức lớp và học phí
Học phí do từng cơ sở bồi dưỡng quyết định, nên phần dưới đây nói về cách hỏi cho đúng chứ không đưa một con số duy nhất.
Thời gian và cách xếp lớp
Chương trình 96 giờ có thể học trong ba tuần nếu tập trung, hoặc kéo tới sáu tuần nếu học buổi tối và cuối tuần. Trước khi chọn, hỏi rõ hai điều: bao nhiêu buổi bắt buộc lên lớp trực tiếp, và phần thực hành giảng dạy tổ chức ở đâu. Đó là hai chỗ quyết định chất lượng của khóa.
Bốn khoản cần tách bạch trước khi chuyển tiền
Học phí khóa học là một khoản. Lệ phí thi và kiểm tra là khoản thứ hai. Chi phí in phôi và cấp chứng chỉ là khoản thứ ba. Chi phí học lại hoặc thi lại là khoản thứ tư. Hỏi đủ bốn rồi mới so giá giữa các nơi, vì cùng một mức chào ban đầu có thể chênh nhau đáng kể sau khi cộng.
Có nơi người học không phải trả tiền
Khoản 9 Điều 10 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT đặt kinh phí đánh giá, công nhận và bồi dưỡng năng lực cho người dạy nghề vào ngân sách nhà nước, nguồn thu của cơ sở và nguồn xã hội hóa. Nếu bạn đang được một cơ sở mời về dạy, hãy hỏi họ về khoản này trước khi tự bỏ tiền túi đi học. Nhiều trường hợp cơ sở lo trọn phần chuẩn hóa.
Hồ sơ đăng ký và thứ tự các bước
Giấy tờ cần chuẩn bị
Danh mục hồ sơ do từng cơ sở bồi dưỡng quy định, vì Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH không ban hành mẫu chung. Thông thường gồm phiếu đăng ký, bản sao căn cước, bản sao văn bằng hoặc giấy tờ về trình độ chuyên môn và ảnh thẻ. Kê khai đúng ngay từ đầu là việc của học viên theo khoản 1 Điều 15, và nó tránh cho bạn một vòng thủ tục chỉnh sửa sau này.
Thứ tự các bước và mốc 30 ngày
Đăng ký, học đủ chương trình, dự kiểm tra và thi các mô-đun, chờ quyết định công nhận tốt nghiệp của người đứng đầu cơ sở, rồi nhận chứng chỉ. Điểm a khoản 2 Điều 9 Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH buộc cấp chứng chỉ không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc khóa bồi dưỡng. Ghi ngày kết thúc khóa vào điện thoại để biết khi nào có quyền hỏi.
Kiểm nơi cấp trước khi kiểm học phí
Nhìn màu bìa trước khi nhìn học phí
Điều 5 Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH tả kỹ phôi chứng chỉ. Bản dạy trình độ sơ cấp có trang 1 và trang 4 màu đỏ, chữ in màu vàng. Bản dạy trung cấp và cao đẳng thì màu xanh dương. Cả hai in hai mặt, bốn trang, mỗi trang 210 mm x 148 mm, phông Times New Roman. Xin xem ảnh phôi mẫu trước khi đóng tiền là việc mất hai phút.
Một câu hỏi làm lộ bên mời không đàng hoàng
Hỏi họ điều khoản nào quy định chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm dạy trình độ sơ cấp có thời hạn. Không có điều khoản đó. Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH mô tả phôi ở Điều 5 và quy định cấp phát ở Điều 9, không chỗ nào nói tới hạn dùng hay gia hạn. Bản chính cấp một lần, mất thì xin bản sao chứ không cấp lại bản chính.
Bốn trường hợp mất chứng chỉ
Khoản 1 Điều 11 Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH thu hồi, hủy bỏ chứng chỉ trong bốn trường hợp: người được cấp bị phát hiện không đủ điều kiện hoặc gian lận; chứng chỉ do người không có thẩm quyền cấp; chứng chỉ bị tẩy xóa, chỉnh sửa; và người được cấp cho người khác sử dụng chứng chỉ của mình. Trường hợp cuối là cái bẫy hay gặp nhất khi có nơi hỏi mượn để hợp thức hồ sơ mở lớp.
Câu hỏi thường gặp
Ở Hà Nội thì học lớp này ở đâu
Ở các cơ sở bồi dưỡng có tổ chức chương trình theo Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH, gồm trường cao đẳng, trường trung cấp và cơ sở được giao nhiệm vụ bồi dưỡng. Lớp có thể mở tại Hà Nội hoặc học theo hình thức kết hợp. Điều cần hỏi là số buổi bắt buộc lên lớp trực tiếp.
Học xong bao lâu thì được cầm chứng chỉ
Không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc khóa bồi dưỡng, theo điểm a khoản 2 Điều 9 Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH. Điều kiện là bạn hoàn thành chương trình và được người đứng đầu cơ sở bồi dưỡng ban hành quyết định công nhận tốt nghiệp. Ghi lại ngày kết thúc khóa để biết khi nào có quyền hỏi.
Tôi có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, dạy sơ cấp có phải học thêm không
Không. Khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT dẫn sang khoản 7, trong đó có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học. Toàn bộ nhóm đó dùng được cho bậc sơ cấp.
Có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia thì đủ chưa
Đủ phần năng lực thực hành nghề, chưa đủ phần sư phạm. Khoản 6 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT công nhận chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 1 trở lên là năng lực thực hành nghề để dạy trình độ sơ cấp. Phần năng lực sư phạm vẫn cần, bằng chứng chỉ hoặc bằng con đường đánh giá công nhận tại cơ sở.
Một khóa 96 giờ thường kéo dài mấy tuần
Khoảng ba tới sáu tuần, tùy cách xếp lịch của từng cơ sở. Lớp tập trung theo đợt thì ngắn hơn, lớp học buổi tối và cuối tuần thì dài hơn. Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH không ấn định số tuần, chỉ ấn định 96 giờ chương trình và cách quy đổi giờ, nên lịch cụ thể do cơ sở công bố.
Tôi đã đi dạy từ năm 2024, giờ có phải bổ sung chứng chỉ chuẩn nghề nghiệp không
Khoản 2 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT không yêu cầu chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp với giáo viên được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc chuyển sang vị trí việc làm giáo viên sơ cấp trước ngày thông tư có hiệu lực, tức trước 09/4/2026. Phần năng lực sư phạm thì vẫn cần theo Điều 8.
Kết quả công nhận năng lực ở nơi này mang sang nơi khác được không
Được. Khoản 7 Điều 8 Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT cho cơ sở khác căn cứ quyết định công nhận đã có để sử dụng người dạy nghề mà không phải tổ chức đánh giá lại, nếu việc công nhận vẫn còn duy trì và nội dung phù hợp với yêu cầu giảng dạy. Trường hợp cần thì họ chỉ đánh giá bổ sung phần chưa phù hợp.
Bước tiếp theo
Trước khi chọn nơi học, hãy làm phép trừ. Danh sách chứng chỉ được công nhận ở khoản 8 Điều 13 Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT khá rộng, nhiều người mở tủ ra là thấy mình đã đủ. Nếu đúng là chưa có tấm nào, hãy hỏi cơ sở ba câu về mô-đun tự chọn, thời hạn cấp chứng chỉ và nơi công bố danh sách đã cấp. Liên hệ 083.906.1718 để nhận khung chương trình chi tiết, lịch khai giảng và bảng thu tách theo từng khoản.
Nội dung do bộ phận tư vấn tuyển sinh CITC thực hiện, đối chiếu với bản Công báo và bản ký của từng văn bản được trích. Bài cung cấp thông tin tuyển sinh cho người có nghề muốn đứng lớp dạy nghề tại Hà Nội, không thay thế tư vấn pháp lý cho từng trường hợp.
Căn cứ pháp lý dẫn trong bài: Thông tư 06/2022/TT-BLĐTBXH ngày 06/4/2022, hiệu lực 01/6/2022, Công báo số 335+336 và 337+338 ngày 07/5/2022; Luật Giáo dục nghề nghiệp 124/2025/QH15 ngày 10/12/2025, hiệu lực 01/01/2026, Công báo số 36 ngày 21/01/2026; Thông tư 24/2026/TT-BGDĐT ngày 09/4/2026 về chuẩn nghề nghiệp giáo viên sơ cấp, giáo viên trung cấp; Thông tư 43/2026/TT-BGDĐT ngày 09/6/2026 về tiêu chuẩn người dạy nghề; Nghị định 37/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025; Nghị quyết 202/2025/QH15. Cập nhật 08/2026.
Bài liên quan: Chứng chỉ Nghiệp vụ Sư phạm sơ cấp · Chứng chỉ Nghiệp vụ Sư phạm · Nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Bắc Ninh · Nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Hưng Yên · Nghiệp vụ sư phạm sơ cấp tại Ninh Bình · Các chứng chỉ đang tuyển sinh
