Chứng chỉ nhân viên y tế cơ sở giáo dục tại Đà Nẵng là giấy xác nhận đã hoàn thành chương trình đào tạo 40 giờ do Bộ Y tế quy định tại Thông tư 28/2023/TT-BYT. Tấm giấy này quan trọng vì một lý do rất cụ thể: phòng y tế trường học không phải cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, nên người ngồi ở đó không phải có giấy phép hành nghề, nhưng đổi lại điểm b khoản 2 Điều 19 Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 đặt ra một điều kiện khác thay thế, và điều kiện đó chính là chương trình đào tạo này. Cái tên chính thức của nghề này nằm trong một dòng của thông tư, và biết cái tên đúng là bước đầu tiên để tìm đúng việc. Bài này viết cho người ở Đà Nẵng, dẫn theo bản gốc các văn bản đang có hiệu lực tại thời điểm cập nhật.

Thông tin nhanh
| Bài viết cho người ở | Đà Nẵng, gồm Quảng Nam cũ |
| Cách văn bản gọi tên | Nhân viên y tế cơ sở giáo dục |
| Học bao nhiêu giờ | 40 giờ, gồm cả phần kiểm tra đánh giá |
| Cách tổ chức lớp | Học tập trung, không có phương án học từ xa |
| Điều kiện dự học | Người làm công tác y tế trường học, cả nhóm có chuyên môn y tế lẫn nhóm được giao kiêm nhiệm |
| Kết quả nhận được | Chứng chỉ hoàn thành chương trình đào tạo do cơ sở đào tạo cấp |
| Văn bản dẫn chiếu | Luật Khám bệnh, chữa bệnh 15/2023/QH15 và Thông tư 28/2023/TT-BYT ngày 29/12/2023 |
| Được làm những gì | Danh mục 45 dòng ở Phụ lục I, mỗi nhóm người học một cột riêng |
| Bao lâu học lại | Cứ 05 năm học cập nhật một lần, tối thiểu 20 giờ |
| Mốc thời gian cần biết | Điều 6 Thông tư 28/2023 chốt hạn hoàn thành đào tạo trước ngày 31/12/2025 |
| Học phí và lịch khai giảng | Gọi 083.906.1718 để nhận bảng của đợt gần nhất |
Tên gọi đúng của nghề nằm ở đâu
Nhịp sống ở Đà Nẵng tạo ra nhu cầu gì
Người ta gọi nghề này bằng nhiều tên: y tế học đường, y tế trường học, nhân viên y tế trường học. Văn bản pháp luật thì gọi một cách khác, và cái tên ấy quyết định bạn tra cứu ra đúng quy định hay tra ra nhầm chỗ. Nó nằm ở một điểm trong Điều 2 Thông tư 28/2023.
Ba điều về địa bàn nên biết trước khi chọn nghề
Thành phố hiện nay gồm cả địa bàn Quảng Nam cũ, nên hệ thống trường trải từ đô thị dịch vụ tới vùng núi phía tây.
Hệ thống trường tư thục, trường quốc tế và trường liên cấp ở khu vực nội thành tạo nhóm nhu cầu tuyển quanh năm. Ngành du lịch và dịch vụ khiến nhiều phụ huynh làm ca tối và cuối tuần, kéo theo nhu cầu bán trú và trực muộn.
Một lưu ý riêng của Đà Nẵng
Trường quốc tế và trường tư quy mô lớn thường đòi thêm chứng chỉ sơ cấp cứu theo chuẩn riêng của họ. Đó là yêu cầu của người tuyển dụng, nằm ngoài yêu cầu của pháp luật.
Nhóm người phù hợp với nghề này ở Đà Nẵng
Người đang làm công tác y tế trường học nhưng thiếu giấy tờ chuyên môn là nhóm cần nhất, vì mốc chuyển tiếp đã hết. Kế đó là người có bằng y sĩ hoặc điều dưỡng muốn đổi môi trường làm việc sang trường học. Nhóm thứ ba là người nhắm vào trường công lập nội thành và hệ thống trường tư thục, trường quốc tế.
Hai văn bản quyết định mọi thứ của nghề này
Chỗ luật mở một lối riêng cho trường học
Luật dựng một nguyên tắc rồi mở một cửa hẹp. Nguyên tắc ở khoản 1 Điều 19 là phải có giấy phép hành nghề. Cửa hẹp ở khoản 2 dành cho vài nhóm, trong đó điểm b nói tới nhân viên y tế làm việc tại y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức mà không thành lập cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Trường học không xin giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh nên rơi vào cửa hẹp này.
Đổi lại cái cửa hẹp đó, luật cài ngay hai điều kiện trong cùng một câu: chỉ làm trong phạm vi hoạt động, và chỉ sau khi hoàn thành chương trình đào tạo do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định. Bỏ qua một trong hai thì vế miễn giấy phép hành nghề cũng không còn giá trị.
Văn bản ấn định nội dung và thời lượng học
Bộ Y tế đặt chương trình đào tạo ấy vào Thông tư 28/2023/TT-BYT, ban hành ngày 29/12/2023, hiệu lực đầu năm 2024. Căn cứ ban hành ghi ở đầu văn bản gồm Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 và Nghị định 95/2022/NĐ-CP, còn Điều 1 nói rõ thông tư hướng dẫn đúng điểm b khoản 2 Điều 19 của luật.
Điểm cần chú ý khi tra cứu: trường học có điều riêng. Điều 3 là của y tế cơ quan và doanh nghiệp, Điều 4 mới là của cơ sở giáo dục. Tra nhầm sang Điều 3 sẽ ra một danh mục có cả xoa bóp bấm huyệt và tư vấn sức khỏe phụ nữ mang thai, những thứ không thuộc phạm vi của người làm trong trường học.
Ranh giới giữa chứng chỉ và bằng cấp
Chứng chỉ theo Thông tư 28/2023 và bằng chuyên môn y tế là hai thứ khác nhau, phục vụ hai mục đích khác nhau. Bằng trung cấp y sĩ hay bằng cao đẳng điều dưỡng là văn bằng của hệ thống giáo dục, chứng minh trình độ đào tạo. Chứng chỉ theo Thông tư 28/2023 chứng minh đã hoàn thành một chương trình bồi dưỡng 40 giờ, và nó là điều kiện để được làm việc trong phạm vi đã định.
Trong thực tế tuyển dụng ở Đà Nẵng, hai tờ giấy này thường được hỏi cùng lúc nhưng cho hai mục đích khác nhau: bằng để xét điều kiện dự tuyển, chứng chỉ để xác nhận đủ điều kiện thực hiện công việc chuyên môn sau khi vào làm.
Điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư 28/2023/TT-BYT là điều khoản đáng đọc kỹ nếu bạn ở Đà Nẵng. Điều khoản giải thích từ ngữ liệt kê bốn loại y tế cơ quan, đơn vị, tổ chức, trong đó điểm c là y tế của các cơ sở giáo dục. Đây là chỗ cụm từ nhân viên y tế cơ sở giáo dục có gốc, và cũng là lý do chương trình đào tạo của nhóm này có một điều riêng là Điều 4 chứ không dùng chung Điều 3 với y tế cơ quan.

Văn bản chia người học làm hai nhóm
Ai thuộc nhóm điểm a
Trục chia của cả thông tư nằm ở khoản 3 Điều 2. Nhóm đầu tiên, ghi ở điểm a, là người có trình độ chuyên môn y tế đáp ứng chuẩn của Thông tư liên tịch 13/2016 với trường mầm non và phổ thông, hoặc chuẩn của Thông tư 33/2021 với cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.
Điều đáng nhớ là nhóm này học chương trình đầy đủ chín nội dung, còn nhóm kia học sáu. Sự chênh lệch ấy kéo theo chênh lệch về phạm vi công việc trong phòng y tế, nên việc xác định đúng nhóm ngay từ đầu tiết kiệm cả thời gian lẫn tiền.
Ai thuộc nhóm điểm b
Nhóm thứ hai được mô tả ở điểm b khoản 3 Điều 2, gồm hai loại. Loại thứ nhất là người có học ngành y nhưng chưa đạt chuẩn mà hai thông tư kia đặt ra. Loại thứ hai là người không có trình độ chuyên môn y tế mà nhà trường giao cho làm công tác y tế trường học.
Nhóm điểm b học sáu nội dung thay vì chín. Ba nội dung không học là thuốc thiết yếu và cách sử dụng, xử trí ban đầu một số triệu chứng và bệnh tật thường gặp, và sức khỏe tâm thần cùng sức khỏe sinh sản.
Hệ quả thực tế của việc phân nhóm
Phân nhóm là bước đầu tiên của cả quá trình, vì cả chương trình đào tạo lẫn phạm vi hoạt động sau này đều rẽ theo nhóm. Phụ lục IV chia hai cột theo nhóm, và Phụ lục I cũng chia cột theo đúng cách ấy.
Học thừa nội dung không sai nhưng tốn thời gian và tiền. Làm quá phạm vi thì nguy hiểm hơn nhiều, vì đó là hành vi vượt phạm vi hoạt động mà pháp luật cho phép, và người chịu trách nhiệm là chính người làm.
Phạm vi hoạt động ghi ở Phụ lục I
Những việc ai cũng được làm sau khi học
Bảng phạm vi hoạt động ở Phụ lục I có 45 dòng. Bảy dòng đầu là phần chung cho mọi người học: quan sát và nhận định tình trạng toàn thân, đánh giá dinh dưỡng kèm đo chiều cao cân nặng, đo mạch nhiệt độ huyết áp, rồi bốn mục tư vấn phòng chống tật khúc xạ, thừa cân béo phì và suy dinh dưỡng, gù vẹo cột sống, bệnh răng miệng.
Nhìn danh mục chung sẽ thấy trọng tâm thật của nghề nằm ở đâu. Phần lớn công việc trong một năm học là đo đếm, theo dõi, tư vấn phòng bệnh và xử lý những tai nạn đột ngột, trong đó riêng mảng sơ cấp cứu đã chiếm mười bốn dòng. Đó cũng là lý do thông tư yêu cầu chương trình đào tạo phải chú trọng huấn luyện kỹ năng thực hành.
Mười ba mục chỉ dành cho nhóm điểm a
Chỗ hai cột tách nhau gồm đúng mười ba dòng. Ba dòng đầu là tư vấn tâm lí, tư vấn chế độ dinh dưỡng và tập luyện, cùng xử trí ban đầu bệnh sởi. Tiếp theo là quai bị, tay chân miệng, tiêu chảy, viêm đường hô hấp trên, cúm, đau mắt đỏ, sốt xuất huyết. Cuối cùng là xử trí ban đầu viêm da dị ứng và nổi mề đay, xử trí ban đầu đau bụng, thay băng và cắt chỉ.
Chi tiết đáng chú ý là tư vấn tâm lí nằm ở phần riêng của nhóm điểm a. Trong khi đó, rối loạn tâm thần và hành vi lại là một mục trong danh mục bệnh tật tuổi học đường ở Phụ lục III. Hai chỗ ấy đọc cùng nhau cho thấy văn bản coi mảng sức khỏe tâm thần là phần đòi chuyên môn thật.
Thứ có trong danh mục khác nhưng không có ở đây
Phụ lục I dùng chung một bảng cho cả y tế cơ quan lẫn cơ sở giáo dục, nên phải đọc theo cột. Những mục chỉ thuộc y tế cơ quan gồm tư vấn sức khỏe phụ nữ mang thai, tư vấn bệnh liên quan nghề nghiệp và cả nhóm xoa bóp bấm huyệt. Người làm trong trường học không có những mục này.
Nguyên tắc để nhớ: phòng y tế trường học là nơi phát hiện sớm, xử trí ban đầu và chuyển tuyến, chứ không phải nơi điều trị. Mọi thứ vượt quá ba việc đó đều cần đặt lại câu hỏi.
Học gì, học bao lâu, học kiểu nào
Chín nội dung trong chương trình
Chương trình do văn bản ấn định chứ không do cơ sở đào tạo tự nghĩ ra. Phụ lục IV ghi chín nội dung, đi từ tổng quan công tác y tế trường học, đặc điểm lứa tuổi học đường, phòng chống tai nạn thương tích và bệnh tật học đường, thuốc thiết yếu, sơ cứu cấp cứu ban đầu, xử trí ban đầu triệu chứng và bệnh tật thường gặp, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm trong trường học, sức khỏe tâm thần và sức khỏe sinh sản, tới truyền thông và giáo dục sức khỏe.
Bảng phụ lục có hai cột đánh dấu. Nhóm điểm a học cả chín. Nhóm điểm b học sáu nội dung, bỏ phần thuốc thiết yếu, phần xử trí ban đầu triệu chứng và bệnh tật, phần sức khỏe tâm thần và sức khỏe sinh sản.
Vì sao bắt buộc học tập trung
Hình thức đào tạo được chốt trong một dòng ngắn của điểm d khoản 3 Điều 4: tập trung. Văn bản không mở thêm bất kỳ phương án nào khác cho chương trình này.
Nếu một nơi ở Đà Nẵng chào mời khóa học trực tuyến cấp chứng chỉ theo Thông tư 28/2023, đó là dấu hiệu để dừng lại và hỏi kỹ hơn. Quy định về hình thức đào tạo nằm ngay trong văn bản và không có ngoại lệ nào được ghi kèm.
Năm năm một lần phải học lại
Điểm b khoản 3 Điều 4 quy định đào tạo cập nhật chuyên môn được thực hiện 05 năm một lần, với thời gian ít nhất bằng 50% thời gian đào tạo lần đầu và cũng tính cả thời gian kiểm tra đánh giá. Đào tạo lần đầu 40 giờ nên lần cập nhật tối thiểu là 20 giờ.
Với người đang làm nghề ở Đà Nẵng, điều nên làm là ghi lại ngày hoàn thành khóa đào tạo và tính trước mốc năm năm. Trường thường không nhắc, nên việc theo dõi chu kỳ là trách nhiệm của chính người giữ chứng chỉ.
Chỗ tuyển nhân viên y tế trường học tại Đà Nẵng
Kênh chính: trường công lập nội thành và hệ thống trường tư thục, trường quốc tế
Trường tư thục, trường quốc tế và trường liên cấp ở nội thành, tuyển theo hợp đồng lao động.
Đây là nhóm chịu tác động trực tiếp nhất của các chỉ tiêu trong Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035, nên cũng là nhóm rà soát nhân sự sớm nhất. Hỏi rõ đây là vị trí chuyên trách hay kiêm nhiệm ngay từ vòng đầu.
Kênh thứ hai
Trường công lập trong thành phố, tuyển theo kỳ tuyển viên chức của Sở Giáo dục và Đào tạo.
Kênh này tuyển theo nhịp năm học, thường dồn vào quãng trước ngày khai giảng. Nên hỏi lịch trực và cách tính công ngoài giờ trước khi ký.
Kênh thứ ba
Trường học ở địa bàn Quảng Nam cũ, gồm cả vùng công nghiệp và vùng núi phía tây.
Nhóm này linh hoạt hơn về thời gian nhưng yêu cầu hồ sơ thường khác nhau giữa các nơi. Hỏi xem phòng y tế đã có đủ trang thiết bị tối thiểu chưa.
Chọn nơi học và những câu nên hỏi trước
Kiểm cơ sở đào tạo trước khi nộp tiền
Trong điểm c khoản 3 Điều 4 có một nghĩa vụ ít được nhắc tới: cơ sở đào tạo phải công bố công khai thông tin về khóa đào tạo trên trang thông tin điện tử của mình trước khi tổ chức lớp. Nghĩa vụ ấy tồn tại để người học kiểm chứng được.
Cùng điểm c, cơ sở đào tạo còn phải xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình, tài liệu đào tạo phù hợp với từng đối tượng. Từng đối tượng ở đây chính là hai nhóm điểm a và điểm b, nên một nơi làm đúng sẽ có hai chương trình chứ không phải một.
Cơ sở đào tạo phải là loại nào
Điểm c khoản 3 Điều 4 xác định ai được mở lớp: cơ sở giáo dục đào tạo khối ngành sức khỏe, cơ sở y tế có chức năng hoặc được giao nhiệm vụ đào tạo nhân lực y tế. Văn bản gọi chung nhóm này là cơ sở đào tạo.
Cùng điểm c còn giao cho cơ sở đào tạo việc xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình cùng tài liệu đào tạo. Nghĩa là chương trình cụ thể do từng nơi soạn, nhưng phải bám khung chín nội dung ở Phụ lục IV và thời lượng 40 giờ.
Học phí và lịch khai giảng tại Đà Nẵng
Mức học phí không cố định giữa các đợt, do phụ thuộc vào chương trình dành cho nhóm nào, số học viên và địa điểm tổ chức. Vì vậy con số chính xác chỉ có ở bảng của đợt đang mở.
Điều nên hỏi kèm không chỉ là con số. Hỏi thêm ba việc: lớp dành cho nhóm điểm a hay điểm b, phần thực hành chiếm bao nhiêu trong 40 giờ, và lịch học bố trí thế nào để không vướng giờ lên lớp.
Câu hỏi thường gặp
Người chưa có bằng y tế ở Đà Nẵng có được ghi danh không?
Có. Văn bản chia người học làm hai nhóm và nhóm thứ hai chính là người có chuyên môn y tế chưa đáp ứng chuẩn cùng người không có chuyên môn y tế được giao làm công tác y tế trường học. Nhóm này học sáu nội dung và có cột phạm vi riêng trong Phụ lục I.
Học xong có được gọi là y sĩ trường học không?
Không. Chứng chỉ này chứng nhận đã hoàn thành chương trình đào tạo theo Thông tư 28/2023, không phải văn bằng chuyên môn và không tạo ra chức danh nghề nghiệp. Chức danh y sĩ có tiêu chuẩn riêng tại Thông tư 41/2025/TT-BYT.
Bao lâu thì phải học lại?
Cứ 05 năm một lần. Thời gian đào tạo cập nhật ít nhất bằng một nửa thời gian lần đầu, nghĩa là tối thiểu 20 giờ, cũng tính cả phần kiểm tra đánh giá.
Có lớp học online không?
Không. Điểm d khoản 3 Điều 4 Thông tư 28/2023 ghi hình thức đào tạo là tập trung. Chương trình đặt trọng tâm ở huấn luyện kỹ năng thực hành nên phải học trực tiếp. Thời lượng lần đầu là 40 giờ, gồm cả kiểm tra đánh giá.
Mốc 31/12/2025 đã qua thì người chưa có chứng chỉ phải làm gì?
Khoản 2 Điều 6 Thông tư 28/2023 cho phép nhân viên y tế tại cơ sở giáo dục tiếp tục thực hiện các nội dung khám bệnh, chữa bệnh đã quy định tại Thông tư liên tịch 13/2016 và Thông tư 33/2021, nhưng phải hoàn thành đào tạo trước ngày 31/12/2025. Sau mốc đó, việc cần làm là hoàn thành chương trình càng sớm càng tốt.
Giấy này có giá trị trên toàn quốc không?
Có. Chương trình và nội dung đào tạo do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định thống nhất, nên chứng chỉ dùng được ở mọi tỉnh, thành. Với người ở Đà Nẵng, việc sáp nhập đơn vị hành chính không ảnh hưởng tới giá trị của giấy.
Nơi nào được cấp chứng chỉ này?
Cơ sở giáo dục đào tạo khối ngành sức khỏe và cơ sở y tế có chức năng hoặc được giao nhiệm vụ đào tạo nhân lực y tế, theo điểm c khoản 3 Điều 4 Thông tư 28/2023. Việc tổ chức đào tạo và cấp chứng chỉ thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành về giáo dục.
Đăng ký tư vấn
Cần biết mình thuộc nhóm điểm a hay điểm b, lớp gần Đà Nẵng nhất khai giảng khi nào và học phí đợt này ra sao, gọi 083.906.1718 hoặc nhắn Zalo 0909.674.234. Nên nói trước bạn đang có văn bằng chuyên môn y tế nào, vì đó là thứ quyết định chương trình học.
Về tác giả: Bài viết được biên soạn bởi bộ phận tư vấn tuyển sinh CITC, đối chiếu văn bản pháp luật hiện hành tại thời điểm cập nhật. Thông tin pháp lý dẫn theo bản gốc; người đọc nên đối chiếu bản hợp nhất mới nhất trước khi áp dụng.
Nguồn tham khảo: Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 15/2023/QH15 ngày 09/01/2023; Thông tư 28/2023/TT-BYT ngày 29/12/2023 của Bộ trưởng Bộ Y tế, hiệu lực 01/01/2024, kèm Phụ lục I, Phụ lục III và Phụ lục IV; Thông tư liên tịch 13/2016/TTLT-BYT-BGDĐT ngày 12/5/2016, Công báo số 381+382 ngày 12/6/2016; Thông tư 33/2021/TT-BYT ngày 31/12/2021; Thông tư 06/2024/TT-BNV ngày 28/6/2024; Thông tư 41/2025/TT-BYT ngày 03/11/2025, hiệu lực 18/12/2025; Nghị quyết 248/2025/QH15 ngày 10/12/2025, hiệu lực 01/01/2026; Quyết định 973/QĐ-TTg ngày 01/6/2026 phê duyệt Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035; Nghị định 37/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025; Nghị định 142/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025; Nghị quyết 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025. Cập nhật 08/2026.
Bài liên quan: Chứng chỉ Nhân viên y tế cơ sở giáo dục tại Quảng Nam · Chứng chỉ Nhân viên y tế cơ sở giáo dục tại Huế · Chứng chỉ Nhân viên y tế cơ sở giáo dục tại Quảng Trị · Chứng chỉ nhân viên phục vụ trường học · Chứng chỉ thư viện thiết bị trường học · Chứng chỉ văn thư lưu trữ · Chứng chỉ Bảo mẫu tại Đà Nẵng · Chứng chỉ Nghiệp vụ Sư phạm tại Đà Nẵng
